Chế độ nạp thường xuyên[sửa | sửa mã nguồn]
Đối với các loại bình ắc quy tĩnh, việc vận hành ắc - Quy được tiến hành theo chế độ phụ nạp thường xuyên. ắc - Quy được đấu vào thanh cái một chiều song song với thiết bị nạp. Nhờ vậy, tuổi thọ và độ tin cậy của ắc - Quy tăng lên, và chi phí bảo dưỡng cũng được giảm xuống.


Để bảo đảm chất lượng ắc - Quy, trước khi đưa vào chế độ phụ nạp thường xuyên phải phóng nạp tập dượt 4 lần. Trong quá trình vận hành ắc - Quy ở chế độ phụ nạp thường xuyên, ắc - Quy không cần phóng nạp tập dượt cũng như nạp lại. Trường hợp sau một thời gian dài làm việc ở chế độ phụ nạp thường xuyên mà thấy chất lượng ắc - Quy bị giảm thì phải thực hiện việc phóng nạp đột xuất.
ac quychì - A - xít và 1,5 +/- 0,05 vôn đối với ắc - Quy Sắt - kền để bù trừ sự tự phóng và duy trì ắc - Quy ở trạng thái luôn được nạp đầy.


Dòng điện phụ nạp thông thường được duy trì bằng 50 .. 100 mA cho mỗi 100 AH dung lượng đối với ắc - Quy chì - A - xít và bằng 40 .. 60 mA cho mỗi 100 AH dung lượng đối với ắc - Quy Sắt - kền. Ở chế độ phụ nạp này, Điện thế trên ắc - Quy phải được duy trì tự động trong khoảng +/- 2 %.


Việc phóng thử dung lượng thực tế của ắc - Quy được tiến hành 1.. 2 năm 1 lần hoặc khi có nghi ngờ dung lượng ắc - Quy kém. Dòng điện phóng được giới hạn ở chế độ mức 3 đến 10 giờ. Để đánh giá chính xác dung lượng phóng của ắc - Quy, nên tiến hành ở cùng 1 chế độ phóng như nhau trong nhiều lần phóng.


Dung lượng quy đổi được tính theo công thức: C20 = Ct / 1 + ( 0,008 ( t - 20 ) ) Với C20 : dung lượng ở 20 o C. Ct : dung lượng ở t o C.

Các bài khác cùng chuyên mục: